Tranh chấp Dân sự

 

Các loại tranh chấp dân sự

- Các loại tranh chấp dân sự bao gồm:

- Tranh chấp về thừa kế tài sản.

- Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

- Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.

- Tranh chấp về nợ khó đòi.

- Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

-Tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

- Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí.

- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ.

- Tranh chấp về quốc tịch

- Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.

Các loại tranh chấp dân sự thường gặp hiện nay là tranh chấp quyền sở hữu tài sản thừa kế, tài sản ly hôn, tranh chấp về đất đai, tranh chấp dân sự liên quan đến hợp đồng, cơ chế quy định trong hợp đồng mua bán, vay tài sản, đầu tư, chuyển giao công nghệ, vận chuyển, bảo hiểm, dịch vụ, các tranh chấp lao động...

 

Các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự quy định 13 trường hợp tranh chấp về dân sự cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết quyết của Tòa án và một quy định mở về “tranh chấp khác về dân sự”. Trong số các tranh chấp dân sự đó, đáng chú ý là các tranh chấp dân sự sau:

- Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

Các tranh chấp về quyền sở hữu tài sản bao gồm tranh chấp xác định ai là chủ sở hữu tài sản, tranh chấp về quyền chiếm hữu, định đoạt và sử dụng tài sản. Tài sản có thể là đồng sản hoặc bất động sản, có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai. Tranh chấp về các quyền khác đối với tài sản bao gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt.

- Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự

Theo giải thích tại Điều 116, Bộ luật dân sự 2015: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.”. Như vậy, giao dịch dân sự đã bao hàm cả hợp động, nhưng theo quy định tại Khoản 3, Điều 26 thì tranh chấp về giao dịch dân sự và tranh chấp về hợp đồng dân sự được tách riêng.

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Và hợp đồng ở đây được hiểu theo nghĩa hẹp, tức là chủ thể hợp đồng là cá nhân, tổ chức không đăng ký kinh doanh, mục đích giao kết không vi lợi nhuận, điều này nhằm phân biệt với hợp đồng kinh doanh thương mại.

Tranh chấp về hợp đồng dân sự khá đa dạng như hợp đồng vay tiền, hợp đồng cầm cố, thế chấp,.. Điều quan trọng là phải xác định chính xác các loại hợp đồng để xác định đúng pháp luật áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp đó.

Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự trong đó thể hiện ý chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Ví dụ: lập di chúc của một cá nhân, việc từ bỏ quyền đòi nợ của chủ nợ,….

- Tranh chấp về thừa kế tài sản

Tranh chấp về thừa kế di sản của người chết để lại bao gồm tranh chấp về quyền thừa kế như quyền yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc yêu cầu bác bỏ quyền thừa kế của người khác đối với di sản thừa kế, tranh chấp thừa kế theo di chúc hay thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế,…

- Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai

Việc sử dụng thuật ngữ tranh chấp đất đai nhằm tạo nên sự thống nhất với quy định của Luật đất đai 2013 (trước đây quy định là tranh chấp quyền sử dụng đất). Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Trong tố tụng dân sự, tranh chấp đất đai được hiểu là tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất, thông thường là tranh chấp về ranh giới đất, lối đi chung, người cho mượn đất, cho thuế đất tranh chấp với người được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Luật Đất đai năm 2013 đã quy định rất cụ thể các trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai (mở rộng hơn so với thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai năm 2003).

- Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu

Văn bản công chứng vô hiệu theo quy định của pháp luật khi người công chứng văn bản ấy không có thẩm quyền công chứng hoặc công chứng viên không tuân thủ quy định pháp luật về trình tự, thủ tục công chức; người yêu cầu cầu công chứng có hành vi giả mạo giấy tờ, tài liệu công chứng mà công chứng viên không biết. Khi cho rằng việc công chức có vi phạm pháp luật thì chủ thể có thẩm quyền có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và khi có chủ thể còn lại không đồng ý với yêu cầu này dẫn đến tranh chấp thì tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

- Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế xử lý tài sản chỉ được thực hiện khi có đủ căn cứ chứng minh tài sản đó là tài sản của người phải thi hành án. Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự 2014, thì chủ sở hữu chung, các bên tranh chấp, chấp hành viên, hoặc tổ chức thi hành án có quyền khởi kiện, yêu cầu tòa án xác định phần sở hữu riêng của người phải thi hành trong khối tài sản chung với người khác trong trường hợp tài sản của người phải thi hành án là tài sản chung thuộc sở hữu chung với người khác nhưng các chủ sở hữu chung không khởi kiện.

- Tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân

Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam là tranh chấp giữa công dân Việt nam với công dân nước ngoài hoặc với người không có quốc tịch về việc xác định quốc tịch Việt Nam do chính một trong các bên hoặc một chủ thể nào đó có liên sự liên quan với các bên, đối với các trường hợp không có tranh chấp giữa các bên về quốc tịch Việt nam mà các bên về quốc tịch Việt nam mà các bên đều thống nhất đề nghị cơ quan nhà nước xem xét thay đổi quốc tịch thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án mà thuộc thẩm quyền của cơ quan khác.

Ngoài ra, các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án được quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự còn có: Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;  Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước theo quy định của Luật tài nguyên nước; Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

Hiện nay, tranh chấp dân sự phát sinh từ những mối quan hệ trong xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: Hôn nhân gia đình, hợp đồng dân sự, kinh doanh thương mại, đất đai, nhà ở v.v… Khi tranh chấp xảy ra các đương sự nộp đơn khởi kiện đến Tòa án cấp có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định. Vậy pháp luật quy định như thế nào đối với trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự? 
Về vấn đề này, Luật sư có ý kiến như sau:
Vụ án dân sự là tranh chấp phát sinh về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ dân sự mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì cá nhân, tổ chức, cơ quan tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, trình tự giải quyết vụ án từ khi phát sinh đến khi kết thúc vụ án trên cơ sở có Đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cụ thể như sau:
1. Nộp đơn khởi kiện
Tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:
-         Nộp trực tiếp tại Tòa án;
-         Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
-         Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Căn sứ theo khoản 1 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đơn khởi kiện phải có những nội dung cụ thể sau:
“Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện
[…]
4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).
Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;
d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);
đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;
e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).
Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.”

 

Như vậy, đối với Đơn khởi kiện thì người khởi kiện cần thực hiện đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định nêu trên đồng thời nộp kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
2. Phân công thẩm phán xem xét đơn
Căn cứ theo Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.
-         Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
-         Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:
+ Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
+ Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định;
+ Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;
+ Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định, phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
3. Thụ lý vụ án và thông báo về việc thụ lý vụ án
Căn cứ theo Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về việc thụ lý vụ án như sau:
-         Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
-         Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
-         Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
-         Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.
Đồng thời, tại Khoản 1 Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về việc thông báo thụ lý vụ án như sau:
-         Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án.
-         Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án.
4. Hòa giải
Căn cứ theo Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:
-         Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình;
-         Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Như vậy sau khi tiến hành hòa giải Tòa án sẽ ra quyết định hòa giải thành khi thông qua hòa giải, các bên tham gia hòa giải tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết toàn bộ hoặc một phần vụ việc dân sự mà phần này không liên quan đến những phần khác của vụ việc dân sự đó và không có đương sự thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận. Trong trường hợp hòa giải không thành Thẩm phán chủ toạ phiên hòa giải lập biên bản hòa giải không thành và thực hiện các thủ tục tiếp theo để đưa vụ án ra xét xử.
5. Chuẩn bị xét xử
Theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án (trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài) từ 01 tháng đến 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án.
-         Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 01 - 02 tháng tùy từng trường hợp cụ thể theo quy định.
-         Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
-         Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;
+ Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;
+ Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;
+ Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;
+ Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;
+ Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
+ Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này.
-         Trong thời hạn chuẩn bị xét xử tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
+ Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;
+ Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
+ Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;
+ Đưa vụ án ra xét xử.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
6. Xét xử sơ thẩm vụ án
Căn cứ theo Điều 222 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về yêu cầu chung đối với phiên tòa sơ thẩm: “Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc trong giấy báo mở lại phiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa.”           
Thành phần tham gia phiên tòa được quy định từ Điều 227 đến Điều 232 tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, gồm: Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Người đại diện của đương sự; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; Người làm chứng; Người giám định và Người phiên dịch, Kiểm sát viên.
Sau khi xét xử sơ thẩm vụ án, trường hợp các bên đương sự không đồng ý với bản án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên thì có quyền nộp đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại nội dung bản án. 

Văn phòng luật sư

» Trình tự giải quyết Ly hôn

» Tư vấn luật đất đai

» Vụ án Hình sự

Công ty luật

» Soạn thảo Hợp Đồng dân sự

» Khởi Kiện Dân Sự - Hôn nhân

Đại diện pháp luật

» Luật sư riêng

» Đại diện ủy quyền

» Soạn thảo hợp đồng, đơn từ